Van thở Kaneko (Breather Valve, Keeper Breather)

Van thở là gì?

Đôi khi được gọi là van xả áp suất và chân không, van xả khí là một bộ phận quan trọng đối với các bồn chứa và bình chứa khí quyển trong đó dung môi được đổ đầy và hút với tốc độ dòng chảy cao. Loại van này được lắp đặt trong đường thở vào và ra của bồn chứa, bình và thiết bị xử lý để giữ lại hơi độc và tránh ô nhiễm khí quyển, do đó cân bằng các dao động không được dự đoán về áp suất và chân không, đồng thời tăng cường khả năng chống cháy và an toàn.

Làm thế nào để van thở làm việc?

Cấu tạo bên trong của van thở thực chất gồm van thở vào và van thở ra, có thể xếp cạnh nhau hoặc chồng lên nhau. Khi áp suất bình bằng áp suất khí quyển, đĩa van áp suất và van chân không và chân ghế phối hợp chặt chẽ với nhau nhờ tác dụng “hấp phụ”, làm cho đệm kín không bị rò rỉ. Khi áp suất hoặc chân không tăng lên, đĩa sẽ mở ra và giữ lại một lớp đệm tốt do hiệu ứng “hấp phụ” ở thành ghế.

Khi áp suất trong bể tăng đến giá trị thiết kế cho phép, van áp suất được mở và khí trong bể được thải ra khí quyển bên ngoài thông qua phía bên của van thông hơi (cụ thể là van áp suất). Lúc này, van chân không bị đóng do áp suất dương trong bể. Ngược lại, quá trình thở ra diễn ra khi bể được nạp và bốc hơi chất lỏng do nhiệt độ khí quyển cao hơn, van chân không mở do áp suất dương của áp suất khí quyển và khí bên ngoài đi vào bể qua van hút (cụ thể là van chân không), lúc này van áp suất đóng lại. Van áp suất và van chân không có thể được mở bất cứ lúc nào. Khi áp suất hoặc chân không trong bể giảm xuống mức bình thường, van áp suất và chân không đóng lại và dừng quá trình thở ra hoặc hít vào.

Mục đích của van thở?

Van thở chỉ được niêm phong trong điều kiện bình thường nếu:

(1) Khi bể bị chảy máu, van thở bắt đầu hít không khí hoặc nitơ vào bể.

(2) Khi đổ đầy bình, van thở bắt đầu đẩy khí thở ra khỏi bể.

(3) Do biến đổi khí hậu và các lý do khác, áp suất hơi vật chất trong bể tăng hoặc giảm và van thở thở ra hơi hoặc hít vào không khí hoặc nitơ (thường được gọi là hiệu ứng nhiệt).

(4) Chất lỏng trong bình bay hơi mạnh do khí thở ra được đốt nóng trong trường hợp hỏa hoạn, và van hô hấp bắt đầu xì hơi ra khỏi bình để tránh hư hỏng bình do quá áp.

(5) Các điều kiện làm việc như vận chuyển áp suất chất lỏng dễ bay hơi, phản ứng hóa học của các thiết bị truyền nhiệt bên trong và bên ngoài và lỗi vận hành, van hô hấp được vận hành để tránh làm hỏng bể chứa do quá áp hoặc siêu chân không.

Làm thế nào để van thở được cài đặt?

(1) van thở phải được lắp đặt tại điểm cao nhất trên đỉnh bể. Về mặt lý thuyết, từ góc độ giảm tổn thất bay hơi và các ống xả khác, nên lắp đặt van thở ở điểm cao nhất của không gian bể để cung cấp khả năng tiếp cận trực tiếp và tối đa nhất đến van thở.

(2) Thể tích lớn của các bể để ngăn chặn một van thở vì nguy cơ áp suất thất bại hoặc áp suất âm có thể được lắp đặt hai van thở. Để tránh hai hoạt động của van thở và tăng nguy cơ thất bại cùng một lúc, thường là hai van hút và áp suất xả trong thiết kế kiểu dốc, hoạt động bình thường, còn lại là dự phòng.

(3) Nếu một nhịp thở lớn làm cho nhịp thở của một van thở không thể đáp ứng yêu cầu, có thể trang bị hai hoặc nhiều van thở, và khoảng cách giữa chúng và tâm của đỉnh bể phải bằng nhau, đó là sự sắp xếp đối xứng trên đỉnh bể.

(4) Nếu van thở được lắp đặt trên bể chứa nitơ, vị trí kết nối của ống cung cấp nitơ phải cách xa giao diện van thở và được đưa vào bể chứa bằng đỉnh bể khoảng 200mm, sao cho nitơ không thải trực tiếp sau khi vào bể và đóng vai trò che phủ nitơ.

(5) Nếu có một bộ phận bắt giữ trong van thở, ảnh hưởng của việc giảm áp suất của bộ phận bắt giữ đối với áp suất xả của van thở phải được xem xét để tránh quá áp của bể.

(6) Khi nhiệt độ trung bình của két thấp hơn hoặc bằng 0, van xả khí phải có biện pháp chống đóng băng để két không bị đóng băng hoặc làm tắc đĩa van do két xả kém hoặc cấp khí không đủ dẫn đến trong bồn chứa trống quá áp hoặc bồn xả áp suất thấp.